Thu

14

Mar

2013

Luật quy định tỷ lệ Điều dưỡng trên người bệnh tại một số bang của hoa kỳ

Nhiều người cho rằng nghề Điều dưỡng một trong những nghề vất vả và có nhiều thách thức, bởi điều dưỡng thường phải m việc liên tục, kéo dài nhiều giờ liền với những áp lực lớn và thường xuyên phải m ca đêm để chăm sóc những người bệnh nặng, thậm trí những người sắp tử vong. Hơn nữa để trở thành sinh viên Điều dưỡng viên, họ phải vượt qua các kỳ thì đầu vào rất khó khăn. Khi đã sinh viên, họ phải học tập rất vất vả, nghiêm túc ở trường và bệnh viện để có đủ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm với đầy đủ trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp để phục vụ người bệnh. Trước khi trở thành nhân viên điều dưỡng, họ phải vượt qua kỳ thi sát hạch cấp quốc gia để nhận được giấy phép hành nghề và khi trở thành điều dưỡng họ phải vận dụng những gì học được vào thực hành nghề nghiệp.

Trong những thập niên gần đây, thế giới xuất hiện trào lưu điều dưỡng di cư từ nước có kinh tế khó khăn sang nước có điều kiện kinh tế phát triển hơn, từ nơi có thu nhập thấp sang nơi có thu nhập cao hơn, từ nông thôn tới thành thị, từ y tế công lập sang tư nhân. Nhiều chuyên gia y tế cho rằng muốn giảm tỷ lệ chuyển công tác, thôi việc, m tăng sự hài lòng nghề nghiệp nhằm giảm khối lượng công việc cho điều dưỡng và tăng sự an toàn cho người bệnh thì các nhà quản lý bệnh viện cần cải thiện tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân, tỷ lệ này cần được thực hiện mọi lúc, mọi nơi. Ví dụ, nếu quy định mỗi điều dưỡng chăm sóc 6 bệnh nhân tại một thời điểm cụ thể trong một bệnh viện cụ thể thì tỷ lệ này được áp dụng tại tất cả các khoa, phòng của bệnh viện.

Vì những lý do trên, sự khủng hoảng thiếu nhân lực điều dưỡng trong những năm 1990 đã gây nên sự tranh cãi ở nhiều bệnh viện ở Hoa kỳ mà điển hình nhất hai bang Massachusetts và California. Điều dưỡng chịu áp lực lớn vì phải chăm sóc quá nhiều bệnh nhân đồng nghĩa với việc bệnh nhân đang phải ghánh chịu hậu quả từ việc thiếu nhân lực điều dưỡng dẫn đến những sai sót không mong muốn mà những sai sót đó có thể phòng ngừa được. Người ta cho rằng để xảy ra biến chứng, kéo dài thời gian nằm viện hay gia tăng sự tái nhập viện của người bệnh có thể hậu quả của việc thiếu nhân lực điều dưỡng. Đó chính lý do để các nhà hoạch định chính sách y tế của một số bang của Hoa Kỳ đi đến quyết định phải xây dựng riêng Luật quy định tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân.


Để minh chứng cho những lập luận về tỷ lệ nhân lực điều dưỡng trên bệnh nhân ảnh hưởng tới chất lượng chăm sóc, nhiều nghiên cứu về nhân lực điều dưỡng và an toàn bệnh nhân đã được thực hiện bởi các nhà y học danh tiếng của Mỹ đã khẳng định tầm quan trọng của tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân mang lại sự an toàn cho người bệnh như thế nào.
Nghiên cứu của Health Grades được công bố tháng 5 năm 2005 cho thấy hàng năm có hơn 195.000 bệnh nhân chết một cách vô ích tại các bệnh viện do các biến chứng liên quan trực tiếp đến việc thiếu nhân viên điều dưỡng mà nguyên nhân chính của những tử vong này “thất bại trong ứng cứu” (liên quan tới sự ứng cứu kịp thời của điều dưỡng và điều kiện điều trị tại bệnh viện), loét ép, nhiễm trùng sau phẫu thuật và tắc ngẽn mạch phổi…Một kết quả khảo sát ý kiến bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện cho thấy gần nửa trong số họ đã gặp phải những thiếu sót trong chăm sóc của điều dưỡng bởi nguyên nhân chính tỷ lệ điều dưỡng dưỡng trên bệnh nhân quá thấp (National Consumers League, 2004).
Nghiên cứu của Học viện khoa học Y học quốc gia Mỹ chỉ ra rằng “Trình độ diều dưỡng ảnh hưởng tới những kết quả đầu ra và sự an toàn của bệnh nhân". Sự theo dõi không đầy đủ, thiếu phương tiện m việc, sự quá tải công việc và tỷ lệ điều dưỡng chuyên nghiệp (RN) quá thiếu. Điều này liên quan tới sự gia tăng tỷ lệ tử vong, sự thương tổn cho người bệnh và đã m tử vong khoảng 98.000 bệnh nhân ở Mỹ mỗi năm, trong khi những sai sót trên có khả năng phòng ngừa được (IOM, November 4, 2003). Nghiên cứu cho rằng số lượng nhân viên điều dưỡng không phù hợp hậu quả của một phần tư trong tất cả những sự cố đã được cảnh báo. Những vấn đề xảy ra không mong muốn dẫn theo tử vong, thương tổn hoặc tàn phế đã được báo cáo tới JCAHO (the Joint Commission on Accreditation of Hospital Organizations) trong những năm qua (JCAHO, August 7, 2002). Một tờ báo y học ở New England đã chỉ ra rằng tỷ lệ thích hợp điều dưỡng trên bệnh nhân m giảm các tỷ lệ: viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu, đột quỵ, ngừng tim, chảy máu dạ dày và nhiều hậu quả khác (NEJM, May 30, 2002).
Nghiên cứu khác được đăng tải trong một tờ báo của Hiệp hội Y khoa Hoa kỳ cho thấy khoảng 20.000 trường hợp tử vong hàng năm của bệnh nhân có thể phòng ngừa được. Tờ báo này cũng đề cập tới tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân. Nếu một nhân viên điều dưỡng phải chăm sóc thêm 1 người bệnh thì tỷ lệ tử vong trong tháng có khả năng m tăng thêm 7%. Nếu thêm vào 4 bệnh nhân thì nguy cơ tử vong nói trên sẽ tăng lên tới 28% (JAMA, October 22, 2002). Theo Tổ chức nghiên cứu sức khoẻ và chất lượng Hoa kỳ thì việc thiếu số lượng điều dưỡng viên ở bệnh viện tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn sau mổ, viêm phổi, loét ép và m tăng thời gian nằm viện, trong khi đó số lượng nhân viên điều dưỡng sẽ tỷ lệ thuận với kết quả đầu ra trên bệnh nhân (AHRQ Report, 2001). Một khảo sát khác cho biết hai phần ba điều dưỡng trực tiếp chăm sóc bệnh nhân ở Massachusetts báo cáo nguyên nhân của những biến chứng nghiêm trọng do thiếu nhân lực điều dưỡng (Opinion Dynamics Corp., 2003)

 


Nguồn: Hiệp hội Y học Hoa Kỳ (Journal of the Americal Medical Association) – Nhân lực điều dưỡng bệnh viện, bỏ nghề và không hài lòng nghề nghiệp (10/2002).

 


Điều lệ quy định về tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân có kết thúc n sóng di cư điều dưỡng hay không?

Tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân có xu hướng giảm đi ở nhiều bang của Hoa Kỳ. Cụ thể, trong khi Massachusetts có mật độ dân cư trên một điều dưỡng cao hơn so với những vùng khác thì nhiều điều dưỡng đã chuyển công tác đi nơi khác hoặc bỏ nghề. Một số tác giả đã đề xuất giải pháp giải quyết n sóng di cư điều dưỡng và bảo vệ bệnh nhân m thế nào để giữ được những điều dưỡng nh nghề và thiết lập những tiêu chuẩn an toàn cho nhân viên tại bệnh viện. Họ đã thực hiện một số nghiên cứu và cho biết: 65% điều dưỡng ở Massachusetts tham gia khảo sát cho rằng những điều kiện m việc ở bệnh viện hiện nay khắc nghiệt đối với họ; gần một nửa điều dưỡng đang công tác tại các bệnh viện của Massachusetts muốn bỏ nghề bởi tình trạng thiếu nhân lực điều dưỡng dẫn đến công việc của họ luôn luôn quá tải (Opinion Dynamics Corp., 2003) và m việc trong môi trường không an toàn. Theo Tổ chức đăng ký hành nghề điều dưỡng của bang, từ năm 1992 đến 2002, số điều dưỡng chuyên nghiệp của Massachusetts tăng 10% trong khi số giường bệnh/điều dưỡng tại đây tăng lên 30%. Hơn nữa, 83% điều dưỡng của Massachusetts được hỏi thì chỉ có 47% đang chăm sóc trực tiếp bệnh nhân ở bệnh viện (tỷ lệ này thấp hơn tỷ lệ trung bình toàn nước Mỹ) và chỉ một nửa trong số họ m việc chính thức (toàn bộ thời gian). Lý do chính m cho điều dưỡng đang dần bỏ nghề do tình trạng nhân lực ít trong khi khối lượng công việc quá nhiều (Colleagues in Caring, 2002). Khảo sát khác cũng được tiến hành cùng thời điểm của nghiên cứu trên với 42.000 điều dưỡng ở Massachusetts cho thấy 42% điều dưỡng hiện đang nghỉ việc trả lời rằng họ sẽ quay lại m việc tại bệnh viện (Opinion Dynamics Corp., 2003) và 33% điều dưỡng m hợp đồng theo giờ (part-time) tại bệnh viện sẽ m tăng giờ nếu như Điều luật tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân được ban hành (Opinion Dynamics Corp., 2003).


Qua những bằng chứng khoa học về sự ảnh hưởng giữa tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân, nhiều nhà xây dựng luật của các bang thuộc Liên bang Hoa kỳ đã và đang quan tâm đến tỷ lệ này. Họ hy vọng Luật quy định tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân ra đời sẽ giành lại sự sống cho nhiều người bệnh và sẽ chấm dứt tình trạng thiếu điều dưỡng tại lãnh thổ của họ. Năm 1999, California bang đầu tiên của Hoa Kỳ ban hành Luật về tỷ lệ điều dưỡng/bệnh nhân d Thống đốc Bang California, Dr. Arnold Schwarzenegger ký ban hành bất chấp sự phản đối mãnh liệt từ các bệnh viện. Theo Luật thì các bệnh viện ở California 5 năm chuẩn bị cho thực hiện và Luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. Luật nói trên quy định tỷ lệ điều dưỡng/bệnh nhân 1/1 tại các phòng phẫu thuật; tỷ lệ 1/2 ở khoa Hồi sức cấp cứu, chăm sóc bệnh nhân nặng, đơn vị hồi sức sơ sinh, hậu phẫu, bất động sau đẻ và phòng đẻ. Tỷ lệ này 1/4 ở phòng chờ sinh, sau sinh, khoa nhi, cấp cứu và những phòng chăm sóc đặc biệt khác. Ở những khoa, phòng, đơn nguyên nội-ngoại tổng quát thì tỷ lệ điều dưỡng-bệnh nhân 1/5.


Để đôn đốc các bệnh viện thực hiện Luật nói trên, ngày 17 tháng 3 năm 2005, Vụ Dịch Vụ Y tế thuộc Bộ Y tế California đã ban hành công văn mang ký hiệu AFL 05-04 yêu cầu tất cả các bệnh viện phải bố trí đủ nhân lực điều dưỡng với tỷ lệ 1 điều dưỡng trên 5 bệnh nhân ở các khoa nội-ngoại và cấp cứu chung, đồng thời các bệnh viện phải thể hiện bằng văn bản sự phân công từng điều dưỡng chăm sóc một số bệnh nhân cụ thể, sự phân công này phải được thực hiện và duy trì ở mọi lúc, mọi nơi trong các bệnh viện.


Câu hỏi đặt ra có những khó khăn gì và người ta đang tranh cãi điều gì khi thực hiện Luật trên tại các bệnh viện?. Dù tranh cãi gì đi nữa thì người ta vẫn phải thực hiện quy định của Luật pháp, có nghĩa số lượng bệnh nhân giao cho một điều dưỡng chăm sóc không được vượt quá tỷ lệ quy định tại bất kỳ điểm nào, tình huống nào và tại bất cứ khoa phòng nào trong toàn bệnh viện. Ngay cả khi một điều dưỡng đi vệ sinh thì ngay lập tức người quản lý phải cử ngay người thay thế để chăm sóc, phục vụ người bệnh.


Sau 5 năm, kể từ khi California ban hành Luật nói trên, lực lượng điều dưỡng đã phấn khởi lên nhiều với tỷ lệ điều dưỡng-bệnh nhân mà các bệnh viện đang thực hiện. Theo Zenei Cortez, một điều dưỡng chuyên nghiệp và một trong những lãnh đạo Hội Điều dưỡng California, Ủy viên chấp hành Hội Điều dưỡng Hoa kỳ nhận xét: Luật nói trên bước đầu đã được thực hiện thành công và bằng chứng sự gia tăng số lượng điều dưỡng chuyên nghiệp được cấp phép hành nghề tại California, sự hài lòng về nghề nghiệp của điều dưỡng. Bà cũng cho rằng chính Luật này đã m gia tăng sự an toàn và mang lại sự sống cho nhiều bệnh nhân; bệnh nhân ủng hộ điều dưỡng nhiều hơn; điều dưỡng cũng được quan tâm hơn và điều dưỡng đã được coi một nghề.


Bên cạnh những kết quả nêu trên, nhiều bệnh viện vẫn chưa hoàn toàn tuân thủ quy định của Luật. Hơn nữa, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này nên chưa có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng tỷ lệ điều dưỡng/bệnh nhân đã cải thiện được chất lượng chăm sóc và giảm thiểu sai sót. Trong thực tế, các nghiên cứu được thực hiện năm 2002 trong thời điểm sau 3 năm Luật được ban hành và 2 năm trước khi luật này có hiệu lực đã đưa ra một số kết luận đáng báo động như sau: khi điều dưỡng được phân công chăm sóc > 4 bệnh nhân thì nguy cơ tử vong tăng lên 7% cho mỗi bệnh nhân bổ sung, điều này đồng nghĩa với nguy cơ tử vong sẽ lên tới 42% nếu một điều dưỡng đang chăm sóc 10 bệnh nhân.
Năm 2008, toàn Hoa kỳ đã có 13 bang Arizona, Connecticut, Florida, Hawaii, Iowa, Montana, Missouri, New Jersey, New Mexico, New York, Ohio, Virginia, và West Virginia đã đưa ra các quy định về tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân, nhưng những quy định này mềm hơn so với California và Massachusetts thông qua luật về tỷ lệ bắt buộc y tá, bệnh nhân, và chỉ có California đã thực hiện luật đó từ 2004. Luật tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân có hiệu lực từ năm 2010 ở Massachusetts, Luật này quy định mềm hơn so với California, luật cho phép trong một số trường hợp, các bệnh viện có thể điều chỉnh tỷ lệ điều dưỡng dựa trên nhu cầu của bệnh nhân.

Tài liệu tham khảo:

  • The Coliation to Protect Massachusetts Patients and Massachusetts Nurses Association, 2005.
  • http://www.dhs.ca.org.gov/Inc/ntp/default.htm
  • http://healthcarehacks.com/nurse-to-patient-ratios-the-science-and-the-controversy (16/02/2010)
  • http://www.americannursetoday.com/article.aspx?id=4964&fid=4922
Ths. Nguyễn Bích Lưu - Phó chủ tịch Hội Điều dưỡng Việt Nam

Write a comment

Comments: 0

  • loading